New Page 1
            Trang chủ

-

Thông báo đề xuất đề tài, dự án khoa học và Công nghệ năm 2011 Thông báo: Hướng dẫn viết báo cáo đề tài khoa học Thông báo: Phát sóng các chương trình "Sở hữu trí tuệ và Cuộc sống" trên Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Vĩnh Phúc năm 2010

 

Default
Main3
New Page 1

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

Phòng Sở hữu trí tuệ

Trao đổi với Phòng sở hữu trí tuệ

Trung tâm Thông tin

Trao đổi với bộ phận Thông tin

Chi cục TCĐLCL

Trao đổi với Chi cục TCĐLCL

Phiên bản Vinhphucdost 1.0

WEBSITE DOANH NGHIỆP

Công ty Cổ phần Bia, Rượu Sài Gòn - Đồng Xuân

Công ty TNHH Cơ khí Xây dựng và Thương mại Hải Vương

Công ty cổ phần tư vấn thiết kế Asean

Hội Doanh nghiệp trẻ tỉnh Vĩnh Phúc

Công ty Thương mại Quốc tế Hoàng Long

Công ty Vàng Bạc Hồng Khanh

Ảnh viện - Áo cưới Hồng Trang

Công ty TNHH Xây dựng – Sản xuất – Thương mại – Dịch vụ Hưng Thoa

Công ty CP Du lịch và Xuất Nhập Khẩu Vĩnh Phúc

Công ty TNHH Trường Sơn

Công ty TNHH Sản xuất - Thương Mại và Xuất nhập khẩu nội thất Tuấn Trang

Chi nhánh ngân hàng ngoại thương Vĩnh Phúc (VietcomBank Vinh Phuc)

VPBank chi nhánh Vĩnh Phúc

Hội chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc

THĂM DÒ DƯ LUẬN

New Page 2

Bạn có nhận xét gì về phiên bản Website mới của chúng tôi ?

Rất tốt

Tốt

Khá

Trung Bình

Kém

 

Bản tin KH&CN Số 1 - Năm 2008

Thực trạng, giải pháp ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc  (Cập nhật ngày: 15/1/2008)

 

Việc nghiên cứu đánh giá thực trạng, giải pháp đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn; khắc phục những hạn chế trong việc chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ; góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá nông nghiệp, hiện đại hoá nông thôn là vấn đề bức thiết hiện nay. Vì vậy năm 2006, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Vĩnh Phúc tập trung nghiên cứu đề tài: “Thực trạng, giải pháp ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”.

1. Thực trạng chuyển giao khoa học và công nghệ trong thanh niên nông thôn:

* Trong thanh niên nông thôn Vĩnh Phúc hiện nay đang dần dần hình thành quan niệm đúng đắn về ứng tiến bộ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên việc nhận thức vẫn không đồng đều ở các đối tượng thanh niên khác nhau, ở các vùng miền khác nhau.

Về tiếp thu kiến thức, công nghệ: 78,4%; áp dụng giống mới, quy trình sản xuất mới: 76,3%; mua sắm thiết bị, nông cụ mới: 63,8%; dịch vụ bảo vệ thực vật: 57,3%; hợp đồng kinh tế hai chiều: 46,2%; tổ chức chế biến, tiêu thụ nông sản: 39,5%. Đối với những thanh niên có trình độ từ THPT trở lên, tỷ lệ đó là 70,9%, trong khi đó thanh niên có trình độ  THCS, tỷ lệ chỉ là 42,6%. Đánh giá theo tương quan cán bộ và đoàn viên thanh niên, tỷ lệ này ở cán bộ cũng cao hơn: 81,3% so với 56,4%. Tuy nhiên khâu chế biến, tiêu thụ nông sản chưa được thanh niên nông thôn Vĩnh Phúc quan tâm.

* Trong hai mươi năm thực hiện đổi mới, thanh niên Vĩnh Phúc đã tiếp cận với khoa học  và công nghệ, áp dụng vào sản xuất nông nghiệp.

- Phong trào VAC, VACR, VACRD được triển khai sâu rộng nhưng không đồng đều, tập trung vào các huyện đồng bằng: Mê Linh, Bình Xuyên, Yên Lạc, Vĩnh Tường. Vấn đề chế biến, bảo quản lương thực, thực phẩm chưa được thanh niên quan tâm nhiều.

- Về phương diện trình độ văn hoá, kết quả trưng cầu ý kiến cho thấy ưu thế của tầng lớp dân cư có trình độ THPT so với số người chỉ có học vấn THCS. Nhìn chung, các tỷ lệ chênh lệch khá rõ nét. Chẳng hạn với Câu lạc bộ Khuyến nông tỷ lệ đó là 76,2% so với 43,7%; đội giống, thuỷ lợi là 75,8% so với 44,3%, khai thác nghề truyền thống là 37,5% so với 22,4%...

- Đối với đội ngũ cán bộ thì ở nông thôn, những hoạt động sau đây là tốt: VAC là 91,8 %, Câu lạc bộ Khuyến nông 74,3%. Với đoàn viên thanh niên lại tích cực tham gia Chương trình IPM 74,3 %, đội giống, đội thuỷ lợi 42,4%, dịch vụ nông nghiệp 48,5%.

- Thanh niên dưới 25 tuổi quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề bảo vệ thực vật, phòng trừ dịch hại (68,5%), nuôi trồng cây con đặc sản (53,4%), tham gia các Câu lạc bộ Khuyến nông, lâm, ngư (48,4%), kể cả vấn đề bảo quản, chế biến lương thực, thực phẩm (27,8 %). Còn đối với lớp người trên 25 tuổi thì đang tích cực khai thác tốt hơn những cách làm truyền thống: VAC, VARC, cải tạo vườn tạp.

- Thanh niên dân tộc ít người  tham gia các Câu lạc bộ Khuyến nông, lâm, ngư đông đảo hơn (57,3% so với 42,8%), nuôi trồng cây con đặc sản cũng khá hơn (54,7% so với 47,6%).

* Môi trường chính trị - xã hội, cơ chế quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường tạo điều kiện thuận lợi để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ ở nông thôn hiện nay. Cơ chế mở cửa, người dân được tự do sản xuất, kinh doanh: 95,7%; chính quyền hỗ trợ, khuyến khích: 87,6%; báo, đài tuyên truyền, phổ biến thường xuyên, kịp thời: 73,4%; đoàn thanh niên động viên, khích lệ: 67,8 %.

- Số người cho rằng các dự án kinh tế ở thanh niên nông thôn ở tỷ lệ thấp. Sự hỗ trợ của các đơn vị  khoa học kỹ thuật cũng quá ít ỏi: 15,2%.

- Xét về trình độ học vấn, về cơ bản trong những người được hỏi, số có trình độ THPT có phần lạc quan hơn số THCS.

- Nhiều ý kiến thanh niên lại thấy vai trò hỗ trợ của Đoàn nhiều hơn so với cán bộ: 67,0% so với 35,7%. Cán bộ lại đề cao tác dụng của các phương tiện thông tin đại chúng: 77,7% so với 52,3%.

- Hầu hết thanh niên thấy rõ tác dụng của sự chuyển đổi cơ chế.

* Về những khó khăn: thiếu vốn: 72,6%; thiếu thông tin, kiến thức: 68,0 %; khó tiêu thụ sản phẩm: 65,9%; thiếu người hướng dẫn: 57,5%; không biết nguồn chuyển giao: 51,2%; khó trong vấn đề bảo vệ thực vật: 39,8 %; chưa là chủ gia đình: 35,9 %; không có phong trào: 20,5%; phong tục tập quán lạc hậu: 15,6%. Những khó khăn vẫn chủ yếu tập trung vào vấn đề thiếu vốn, thiếu thông tin, kiến thức, không biết cách làm ăn, thiếu người hướng dẫn và sản phẩm sản xuất ra khó tiêu thụ. Chúng ta thấy những khác biệt khá lớn khi so sánh giữa cán bộ và đoàn viên thanh niên: thiếu vốn: 83,7% so với 63,4 % ở cán bộ; thiếu người hướng dẫn: 76,5% so với 25,5% ở cán bộ; phong tục tập quán: 21,4% so với 9,5% ở cán bộ; chưa là chủ gia đình: 42,7% so với 12,2% ở cán bộ... Có một điểm đáng chú ý là đối với thanh niên vùng dân tộc thiểu số vấn đề vốn lại không thật quan trọng như thanh niên vùng đồng bằng: 56,8% so với 78,3%.

* Tổ chức Đoàn, Hội ở nông thôn trong những năm qua đã chủ động, tích cực trong việc hỗ trợ thanh niên ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ sản xuất. Tuy nhiên, hoạt động của Đoàn, Hội còn dàn trải, chưa có trọng điểm, thiếu chiều sâu. Theo điều tra cho thấy: về hướng dẫn cách làm ăn: 76,4%; phổ biến kiến thức, công nghệ: 67,8 %; giới thiệu điển hình, mô hình: 47,6 %; tín chấp vay vốn: 44,7%; tổ chức gặp gỡ cán bộ kỹ thuật: 38,2%; tổ chức Câu lạc bộ Khoa học kỹ thuật: 34,7%; tổ chức hoạt động khuyến nông IPM: 29,8%; thành lập Trung tâm Chuyển giao công nghệ: 14,8%. Kết quả này chứng tỏ các tổ chức Đoàn ở nông thôn trong những năm qua đã làm được khá nhiều việc trong việc hỗ trợ thanh niên lập nghiệp. Thanh niên dân tộc đánh giá rất cao vai trò của tổ chức Đoàn trong việc hướng dẫn cách làm ăn: 73,6 %, giới thiệu điển hình, mô hình: 68,7%, phổ biến kiến thức: 47,8%...

* Vấn đề ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất, kết quả điều tra cho thấy: giống: 67,8%; cơ giới hoá: 55,7%; chương trình IPM: 52 %; phân: 48,6%; chế phẩm tăng năng suất: 42,8%; thâm canh theo nông lịch: 35,7%; bảo quản chế biến lương thực, thực phẩm: 20,2%; công nghệ vi sinh: 17,4%; công nghệ truyền thống: 12,3%. ở đây đã thể hiện sự kết hợp giữa bài học của công nghệ cổ truyền: nước  phân - cần - giống và công nghệ hiện đại. Điều đó có nghĩa là trong khi ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp nhất thiết phải đảm bảo được tính kế thừa biện chứng.

Kết quả điều tra xã hội học cũng cho thấy, những việc mà thanh niên nông thôn đang làm có liên quan tới ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ cũng tuỳ thuộc vào đặc điểm sinh thái tự nhiên, xã hội của từng vùng, từng miền.  Số người có học vấn THPT thì cho rằng những vấn đề sau đây là quan trọng: thuỷ lợi, đất: 80,2%; giống: 68,7%; cơ giới hoá: 65,7%; IPM: 54,7%. Nhưng số người với học vấn THCS thì lại xếp theo thứ tự  sau: thuỷ lợi, đất: 71,3,5%; phân: 54,6%; chế phẩm: 47,8 %; thâm canh: 42,3%.

2. Kết quả xây dựng mô hình chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ giải quyết việc làm trong thanh niên nông thôn.

2.1. Mô hình CLB làm kinh tế trang trại ở Tam Quan-Tam Đảo:

- Đầu năm 2006, BTV Tỉnh Đoàn chỉ đạo thành lập, kiện toàn câu lạc bộ thanh niên giúp nhau làm kinh tế. Làm việc với cấp uỷ, chính quyền xã Tam Quan về xây dựng mô hình kinh tế trang trại giải quyết việc làm cho thanh niên.

- Sau khi củng cố và thành lập, Câu lạc bộ đã tiến hành tổ chức các hoạt động, tổ chức chuyển giao khoa học kỹ thuật cho đoàn viên thanh niên các lĩnh vực như kỹ thuật chăn nuôi gà thả vườn, nuôi lợn nái sinh sản, nuôi bò lấy thịt, trồng cây ăn quả, với 250 đoàn viên tham gia, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trong điều kiện mới. Đa dạng  hoá loại hình tập hợp thanh niên vào tổ chức thông qua các tổ hội phường giúp nhau.

-  Ngày 10/7/2006, BTV Tỉnh Đoàn phối hợp với Trung tâm Kỹ thuật rau, hoa, quả tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức lớp tập huấn kỹ thuật trồng cây cho 90 đoàn viên thanh niên xã Tam Quan. Sau lớp tập huấn, các hộ gia đình thanh niên tham gia mô hình đã tiến hành quy trình kỹ thuật, bón lót phân và các điều kiện cần thiết cho việc trồng cây giống.

- Song song với việc tập huấn, BTV Tỉnh Đoàn đã tiến hành việc hỗ trợ cây giống cho thanh niên, kết hợp với sự hỗ trợ của Trung ương Đoàn. Để đảm bảo cây giống có chất lượng, Tỉnh Đoàn đã ký hợp đồng mua cây giống tại Trung tâm Kỹ thuật rau, hoa, quả tỉnh Vĩnh Phúc. Theo yêu cầu và nguyện vọng của đoàn viên thanh niên, mô hình được triển khai với hai loại cây chính là xoài Đài Loan và vải Hùng Long chín sớm.

- Tháng 8/2006, BTV Tỉnh Đoàn đã chỉ đạo  Đoàn xã Tam Quan cùng với 41 hộ gia đình thanh niên của Câu lạc bộ tiến hành trồng và trồng được 4.000 cây xoài Đài Loan trên diện tích 11 ha, và đảm bảo tỷ lệ sống là 99,7%, thuê 01 cán bộ kỹ thuật có chuyên môn theo dõi và hướng dẫn kỹ thuật cho thanh niên trong suốt thời gian triển khai mô hình.

- Cùng với hoạt động trên, toàn xã đã có 10 tổ, hội, giúp nhau làm kinh tế với tổng số vốn giúp nhau trên 30 triệu đồng.

- Thông qua mô hình trên cho thấy số lượng đoàn viên thanh niên đến với hoạt động của Đoàn ngày một đông đảo hơn. Từ đó đã tập hợp thanh niên chuyển giao khoa học kỹ thuật, tiếp cận với công nghệ mới, đã giải quyết việc làm tại chỗ cho hàng trăm thanh niên xã Tam Quan. Đến nay, các mô hình trồng cây ăn quả, nuôi gà thả vườn được đoàn viên thanh niên áp dụng ngày càng nhiều,  đã nhiều đồng chí có trang trại chăn nuôi lớn thu nhập hàng chục triệu đồng/năm như: mô hình gà đẻ trứng của đồng chí Quân, đồng chí Thiện; mô hình gà thịt như đồng chí Thạch, đồng chí Long. Hỗ trợ thanh niên vay vốn lãi suất thấp được 349 triệu đồng và chuyển giao hơn 4.000 cây ăn qủa, tập trung vào các giống như xoài, vải chín sớm cho đoàn viên thanh niên, vốn vay được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả.

2.2. Mô hình tổ thanh niên làm dịch vụ chế biến nông sản xã Sơn Lôi-Bình Xuyên:

- Đầu năm 2006, BTV Tỉnh Đoàn chỉ đạo thành lập tổ thanh niên làm dịch vụ chế biến nông sản xã Sơn Lôi - Bình Xuyên gồm 10 thanh niên.

 - Làm việc với cấp uỷ, chính quyền xã Sơn Lôi về xây dựng mô hình chuyển giao khoa học kỹ thuật, giải quyết việc làm cho thanh niên.

- Sau khi thành lập, đã tiến hành tổ chức các hoạt động, tổ chức chuyển giao khoa học kỹ thuật cho đoàn viên thanh niên về chế biến nông sản, cử 10 thanh niên tham gia lớp đào tạo khởi sự doanh nghiệp.

- Cùng với hoạt động trên, BTV Tỉnh Đoàn đã hướng dẫn BTV Đoàn xã tìm các nguồn hỗ trợ đầu tư xây dựng 02 dây chuyền chế biến thức ăn gia súc với kinh phí đầu tư 96 triệu đồng, thông qua đó đã giải quyết việc làm cho 12 lao động, mức thu nhập 500.000 đ/tháng, đóng góp cho quỹ Đoàn xã 150.000 đ/tháng.

Mô hình tổ thanh niên làm dịch vụ chế biến nông sản của xã Sơn Lôi mới được thành lập song hoạt động bước đầu có hiệu quả, giải quyết việc làm tại chỗ cho thanh niên nông thôn hiện nay. Tháng 11/2006, mô hình này đã được Trung ương Đoàn chọn đi dự Hội nghị toàn quốc về việc làm cho thanh niên. Đồng thời qua mô hình trên cho thấy số lượng đoàn viên thanh niên đến với hoạt động của Đoàn, ngày một đông đảo hơn. Từ đó đã tập hợp thanh niên chuyển giao khoa học kỹ thuật, tiếp cận với công nghệ mới, đã giải quyết việc làm tại chỗ cho  thanh niên.

BBT.

 

Các tin khác

Nhân năm tý nói chuyện chuột: Loài chuột thông minh hơn người? (15/1/2008)

Vĩnh Phúc trong mùa xuân này (15/1/2008)

Những người thổi hồn cho đá (15/1/2008)

Trứng gà - Những điều cần biết (15/1/2008)

Kỹ thuật nuôi gà ác (15/1/2008)

Bảo vệ sức khoẻ trong ngày đông (15/1/2008)

Quy trình chăn nuôi bò thịt chất lượng cao tại địa phương (15/1/2008)

Quy trình kỹ thuật nuôi giun đất (15/1/2008)

Quy trình trồng su su an toàn (15/1/2008)

 Trang số    / 4   Sau (Trang số 2)  Cuối (Trang số 4)

ĐIỂM TIN

Vĩnh Phúc

|

Trong và ngoài nước

New Page 1

TRUYỀN HÌNH VĨNH PHÚC

 

BẢN TIN KH&CN

Số 4 - Năm 2010

Số 3 - Năm 2010

Số 2 - Năm 2010

Số 1 - Năm 2010

VĂN PHÒNG ĐIỆN TỬ

QUẢNG CÁO